Bằng cách nào chúng ta có thể ngăn ngừa sư nhiễm trùng và bênh tật?

          Câu hỏi lớn cuối cùng thúc đẩy các nghiên cứu vi sinh vật học trong “Thời kỳ hoàng kim” là làm thế nào để ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng. Mặc dù một số phương pháp ngăn ngừa và hạn chế bệnh đã được phát hiện ngay cả trước khi con người biết được vi sinh vật chính là kẻ gây ra các bệnh truyền nhiễm, song chỉ sau khi Pasteur và Koch chỉ ra rằng sự sông bắt nguồn từ sự sống và vi sinh vật có thể gầy ra các loại bệnh thì con người mới đạt được những tiến bộ đáng kể.
           Vào giữa những năm 1800, các nguyên lý hiện đại về vệ sinh như nguyên lý xử lý nước và nước thải/ vệ sinh cá nhân, kiểm soát các vật gây dịch hại còn chưa được ứng dụng rộng rãi. Nói chung, các nhân viên y tế và các thiết bị chăm sóc sức khỏe còn chưa đạt yêu cầu về mặt vệ sinh. Các bệnh nhiễm trùng bệnh viện I tức là các bệnh nhiễm trùng mắc phải trong các cơ sở y tế – đã xuất hiện tràn lan. Ví dụ, các bệnh nhân được phẫu thuật thường bị chết do bệnh hoại thư mắc phải trong thời gian được các bác sĩ chăm sóc, và nhiều phụ nữ sinh con tại bệnh viện thường bị chết vì bệnh sốt sản. Bốn nhân viên ngành y tế đã có công đặc biệt trong việc làm thay đổi phương thức chăm sóc bệnh nhân, đó là Semmelweis, Lister, Nightingale, và Snow.


nhiễm trùng


            Semmelweis và biện pháp rửa tay
          Ignaz Semmelweis (1818-1865) là một bác sĩ làm việc tại nhà hộ sinh trong một bệnh viện thực tập ở Vienna. Vào khoảng năm 1848 ông nhận thấy những phụ nữ sinh con ở các khu vực có sinh viên đang thực tập thường bị chết vì bệnh sốt sản với tỉ lệ cao gấp 20 lần so với tỷ lệ tử vong của các phụ nữ khác được các bà đỡ đứng tuổi chăm sóc hoặc các đối tượng sinh con tại nhà.
           Mặc dầu lúc đó Pasteur chưa đưa ra học thuyết mầm bệnh, song Semmelvveis đã nghi ngờ rằng chính các sinh viên y khoa là người đã mang “các phần tử gây chết” từ các buổi thực tập làm sinh thiết của họ vào phòng hộ sinh và chính các phần tử này đã gây nên sốt sản. Giả thuyết của Semmeỉvveis được ủng hộ khi một bác sĩ làm đứt ngón tay của mình trong lúc làm sinh thiết đã bị tử nạn sau khi biểu hiện các triệu chứng giống như các triệu chứng của bệnh sốt sản. Ngày nay chúng ta biết rằng nguyên nhân chủ yếu của bệnh sốt sản là các vi khuẩn thuộc chi Stroptoccus, bọn này thông thường sống vô hại trên da và trong khoang mieenhj sống sẽ gây ra những biến chứng nghiêm trong khi chúng xâm nhập vào máu. Semmelwis bắt đầu yêu cầu các sinh viên y khoa phải rửa tay của họ bằng nước vôi đã được bổ sung clo, một chât từ lâu đã được khử mùi xác chất. Tỷ lệ tử vong trong năm kế tiếp đã giảm từ 18,3% xuống còn 1,3%




Từ khóa tìm kiếm nhiều: bài tập sinh học 12, quá trình quang hợp

Các giả thuyết của Koch

        Sau khi phát hiện ra vi khuẩn gây bệnh than, Koch đã tiếp tục tìm kiếm các tác nhân gây bệnh khác. Trong hai công trình khoa học công 00′ vào năm 1882 và 1884, ông đã thông báo rằng tác nhân của bệnh lao là một vi khuẩn hình que có tôn là Mycobacterium tuberculosis.         Vào năm 1905 ông đã nhận được giải thưởng Nobel về sinh lý học và y học cho công trình này.
1. Quan sát thấy các vi sinh vật gây bệnh trong chuột bị bệnh, không có mặt
trong chuột khởe mạnh.
2. Phân lập được vi sinh vật và nuôi cấy trong phòng thí nghiệm.
3. Chuột khởe được tiêm bởi các vi sinh vật phân lập được sẽ bị mắc bệnh.
4. Tái phân lập được vi sinh vật giống hệt từ chuột bị bệnh.

Koch


        Trong các công bố của mình về bệnh lao, Koch đã làm sáng tở một loạt các bước cần phải được tiến hành để chứng minh căn nguyên của bất kỳ một bệnh nhiễm trùng nào. Các bước này, ngày nay chúng ta gọi là các giả thuyết của Koch, là một trong những đóng góp quan trọng nhất của ông đối với vi sinh vật học. Các giả thuyết của Koch bao gồm:
1- Tác nhân nghi ngờ gây bệnh phải được
tìm thấy trong mọi trường hợp của bệnh và vắng mặt trong các vật chủ khởe mạnh.
2- Tác nhân phải phân lập được và phát triển được bên ngoài vật chủ.
3- Khi tác nhân được đưa vào một vật chủ khởe mạnh, mẫn cảm, vật chủ phải bị nhiễm bệnh.
4- Tác nhân đó phải được phân lập lại từ vật chủ thí nghiệm đã mắc bệnh.
         Chứng ta sử dụng thuật ngõ tác nhân nghi ngờ gây bệnh vì “tác nhân” có thể là nấm, nguyên sinh động vật, vi khuẩn, virut hoặc các tác nhân khác. Nó vẩn là “nghi ngờ” cho đến khi các giả thuyết được chứng minh.
          Trong những “năm hoàng kim” của vi sinh vật học, nhiều nhà khoa học khác đã sử dụng các giả thuyết của Koch cũng như các kỹ thuật phòng thí nghiệm do Koch và Pasteur đề ra để phát hiện căn nguyên của hầu hết các bệnh dò nguyên sinh động vật và vi khuân gây ra cũng như của một số bệnh do virut. Chẳng hạn, Charles Laveran (1845-1922) đã chỉ ra được một loài nguyên sinh động vật là tác nhân gây bệnh sốt rét, còn Edwin Klebs (1834-1913) đã mô tả vi khuẩn gây bệnh bạch hầu. Dmitri Ivanovvski (1864-1920) và Martinus Beijerinck (1851- 1931) đã phát hiện ra một loại bệnh ở cấy thuốc lá với tác nhân có thể chui qua các màng lọc có lỗ rất nhở mà vi khuân không thể đi qua. Beijerinck, khi nhận ra tác nhân không phải vi khuẩn đã gọi nó là một virut có thể qua lọc. Ngày nay những tác nhân như vậy được gọi đơn giản là virut. Như đã lưu ý trước đây, virut chỉ được nhìn thấy vào năm 1932 khi kính hiển vi điện tử được phát minh. Vào năm 1900, bác sĩ người Mỹ VValter Reed (1851-1902) đã chứng minh được rằng virut cũng có thể gây ra các bệnh khác như bệnh sốt vàng ở người.




Từ khóa tìm kiếm nhiều: quang hop, lên men

Các thí nghiệm của Koch

         Khi còn là một bác sĩ làng quê ở Đức, Koch đã bắt đầu cuộc chạy đua với Pasteur để tìm ra nguyên nhân của bệnh than, một bệnh gây chết tiềm tàng chủ yếu gặp ở động vật, ở đó độc tố tạo nên các vết loét trên da. Bệnh than gây nên những tổn thất vô giá về tài chính đôi với nông dân và các chủ trang trại vào những năm 1800, và bệnh có thể lây sang người.
Koch đã nghiên cứu kỹ lưỡng máu của các động vật bị nhiễm bệnh, 1 và trong mọi trường hợp ông đều phát hiện ra một vi khuẩn hình que xếp thành chuỗi. Ông quan sát thấy sự hình thành các thể nghỉ (nội bào tử) bên trong các tế bào vi khuẩn và chỉ ra rằng bào tử luôn luôn gây nên bệnh than khi chúng được tiêm vào chuột. Đây là lần đầu tiên một vi khuẩn được chứng minh là căn nguyên gây ra một loại bệnh.
Được cổ vũ bởi thành công này, Koch đã chuyên sự chú ý của mình sang các bệnh khác. Ông đã gặp may khi chọn bệnh than cho các nghiên cứu khởi đầu của mình vì các vi khuẩn gây bệnh than khá lớn và dễ nhân dạng dưới các kính hiển vi có vào thời đó. Tuy nhiên, hầu hết vi khuẩn khác đều rất nhỏ và giữa các dạng vi khuẩn khác nhau thường ít hoặc không thể hiện sự khác biệt rõ rệt. Koch đã gặp lúng túng trong việc phân biệt các vi khuẩn này.

Koch

Ông đã tìm ra giải pháp báng cách thụ mẫu (máu, mủ, đờm, dãi) từ các con bệnh rồi sau đó cấy (bôi) lên một bề mặt rắn như khoai tây cắt lát hay một môi trường chứa gelatin. Rồi ông đợi đến khi vi khuẩn và nấm có trong mẫu sinh sản và tạo nên các khuẩn lạc rõ rệt. Koch đã cho rằng mỗi khuẩn lạc chúa các con cháu của một tế bào duy nhát. Sau đó ông tiêm các mẫu vi sinh vật lấy từ từng khuẩn lac vào các động vật thí nghiệm để xem vi sinh vật nào đã gây nên bệnh. Phương pháp phân lập của Koch là một kỹ thuật tiêu chuẩn trong các phòng thí nghiệm vi sinh vật học và y học vẫn được sử dụng cho tới ngày nay, chỉ có điều một chất keo có tên là thạch – sản phẩm được chế từ tảo biển đỏ – đã được sử dụng thay cho gelatin hoặc khoai tây.
Koch và các cộng tác viên của ông cũng là nhừng người đã tạo nên nhiều tiến bộ khác trong lĩnh vực vi sinh vật học phòng thí nghiệm, bao gồm những thành tựu sau đây:
- Các kỹ thuật nhuộm đơn giản đối với tế bào và lên ròi vi khuẩn
- Những bức ảnh hiển vi đầu tiên về vi khuẩn
- Những bức ảnh đầu tiên về vi khuẩn trong các mô bị bệnh
- Các kỹ thuật xác định số lượng vi khuẩn trong một dung dịch dựa trên số khuẩn lạc tạo thành sau khi được nuôi cấy trên bể mặt một môi trường rắn
- sử dụng hơi nước để khử trùng môi trường nuôi cấy
- sử dụng đĩa Petri để giữ các môi trường rắn
- Các kỹ thuật vô trùng trong phòng thí nghiệm như dùng que cây platin được tiệt trùng trên ngọn lửa để cây truyền vi khuẩn giữa các môi trường
- Phân biệt vi khuẩn như các loài riêng biệt
Do các thành tựu này, Koch được coi là người cha của Phòng thí nghiệm vi sinh vật học.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: bai tap sinh hoc 12, lên men

Các thí nghiệm của Buchner và Điều gì gây nên bênh tật?

            Các thí nghiệm của Buchner
           Các nghiên cứu về lên men được bắt đầu với ý tưởng cho rằng phản ứng lên men chỉ là những phản ứng thuần túy hóa học và không có sự tham gia của các cơ thể sống. Vào năm 1897 nhà khoa học Đức Eduard Buchner (1860-1917) đã làm sống lại sự giải thích theo quan điểm hóa học bằng cách chỉ ra rằng lên men không cần tới các tế bào sống.

          Các thí nghiệm của Buchner đã chứng minh được sự có mặt của các enzim đó là các protein do các tế bào sinh ra có tác dụng kích hoạt các phản ứng hóa học. Công trình của Buchner đã mở đầu cho lĩnh vực hóa sinh học và hhững nghiên cứu về trao đối chất, một thuật ngữ ám chỉ toàn bộ các phản ứng hóa học xảy ra bên trong một cơ thể.
           Cuộc luận chiến đã có thể xảy ra theo hướng nào nếu giả sử Buchner tiến hành các thí nghiệm của mình vào năm 1857 chứ không phải năm 1897?

Buchner


             Điều gì gây nên bênh tật?
            Vấn đề thứ ba thúc đẩy sự phát triển của vi sinh vật học có liên quan đến bệnh tật, một thuật ngữ thường được dùng để chỉ bất kỳ trạng thái bất thường nào diễn ra trong cơ thể. Trước những năm 1800, người ta cho rằng bệnh là do nhiều yếu tố khác nhau gây ra, như linh hồn xấu xa, tội lỗi, sự mất cân bằng trong các dịch cơ thể/ và hơi nước hôi thối. Mặc dù ngay từ năm 1546 nhà triết học người Ý Girolamo Fracastoro (1478-1553) đà phỏng đoán rằng các “mầm lây nhiễm” là kẻ đã gây ra bệnh tật, song quan niệm cho rằng chính các cơ thể sống không thể nhìn thấy được mới là mầm bệnh thì chỉ được xuất hiện 230 năm sau, sau những phát minh về kính hiển vi của Leeuwenhoek.
            Phát hiện của Pasteur về việc vi khuẩn có trách nhiệm đối với việc làm hỏng rượu vang đương nhiên đã dẫn đến giả thuyết vào năm 1857 của ông cho rằng vi sinh vật cũng là những kẻ chịu trách nhiệm đối với bệnh tật. Tư tưởng này về sau đã được gọi là học thuyết mầm bệnh,. Vì rằng một bệnh cụ thể thường được đi kèm với các triệu chứng như nhau ồ mọi cơ thể bị nhiễm bệnh, nên các nhà nghiên cứu trước đó nghi ngờ rằng mọi loại bệnh như bệnh tả, bệnh lao và bệnh than, đều do một mầm bệnh chuyên biệt được gọi là tác nhân gây bệnh gây ra. Ngày nay chúng ta biết rằng một số bệnh có tính di truyền và một sô” bệnh khác thì lại do các phản ứng dị ứng hoặc các độc tố của môi trường gây m, cho nên học thuyết mầm bệnh chỉ có thể áp. đụng với các bệnh nhiễm trùng.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: bai tap sinh hoc 12, quang hop

Điều gì gây ra lên men và các thí nghiêm của Pasteur

          Điều gì gây ra lên men?


        Tại nước Pháp của thế kỷ 19, rưựu vang bị chua và bị hỏng đã đe dọa sự tồn tại của nhiều nhà trồng nho. Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là “Tại sao rượu vang bị hỏng?”, song câu hòi này dẫn đến một vấn đề cơ bản hơn “Đâu là nguyên nhân của sự lên men dịch nho thành rượu vang?”.

           Các thí nghiêm của Pasteur

         Các nhà khoa học của những năm 1800 sử dụng từ lên men không chỉ đê nói lên sự tạo thảnh rượu từ đường mà còn đê nói về các phản ứng hóa học khác như sự tạo thành axit lactic, sự thôi rữa của thịt và sư phân hủy các chất thải. Nhiều nhà khoa học quả quyết rằng không khí là kẻ gây ra các phản ứng lổn men còn những người khác lại cho rằng các cơ thể sống mới chịu trách nhiệm đối với quá trình này.

         Pasteur đã tiến hành một loạt (Ịuan sát và thực nghiệm kỹ lưỡng để trả lời câu hỏi “Điều gì gây ra lên men?”. Trước hết, ông quan sát thây các tế bào nấm men sinh trưởng và nảy chồi trong dịch nho và đã tiến hành các thí nghiệm để chỉ ra rằng chúng chỉ xuất hiện từ các tế bào nấm men khác. Sau đó, bằng cách hàn kín một số bình vô trùng chứa dịch nho và nấm men và bằng cách đê các bình khác mở thông với không khí, ông đã chứng minh được rằng nấm men có thê sinh trưỏng cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt oxi; tức là, ông đă phát hiện ra nấm men là những sinh vật kị khí tuy tiện – những cơ thể có thể sông cả khi có mặt lẫn khi vắng mặt oxi. Cuối cùng, bằng cách đưa các tế bào vi khuẩn và nấm men vào các bình khác nhau chứa dịch nho vô trùng, ông đã chứng minh được rằng vi khuẩn lên men địch nho. để tạo ra axit còn các tế bảo nấm men lên men dịch nho đê tạo thành rượu.

Pasteur

         Phát hiện của Pasteur vổ việc các vi khuẩn kị khí lổn men dịch nho thành axit đã làm xuất hiện ý tưởng về một phương pháp ngăn ngừa sự hư hỏng của rưựu vang. Tên tuổi cùa ông đă trở thành một từ nội trợ quen thuộc khi ông đề xuất phương pháp khử trùng Pasteur, một quá trình đun nóng địch nho vừa đủ để giết chết hầu hết các vi khuân tạp nhiềm song không làm thay đổi chất lượng cơ bản eủa dịch ép nho. Dịch này sau đó có thế được cây bằng nấm men để đảm bảo có thể diễn ra quá trình lên men rượu. Như vậy, Pasteur là người đã mở đầu lĩnh vực vi sinh vật học công nghiệp (hoặc công nghệ sình học), một chuyên ngành mà ơ đó vi sinh vật được sử đụng có mục đích đê tạo ra nhiều sản phẩm.

         Ngày nay phương pháp khử trùng Pasteur được sử đụng thông dụng trốn sừa đô’ loại bỏ tác nhân gây các bộnh như bộnh lao bò hay bệnh do BruceỉlcV, nó cũng được sử dụng đổ loại các tác nhân gây bệnh trong dịch quả và các loại đồ uống khác.
        Đây chỉ là một sô” trong nhiều thí nghiệm mà Pasteur đã tiến hành trên vi sinh vật. Do đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng và phong phú khi tiến hành với vi sinh vật, Pasteur được coi là người khai sinh ra ngành Vi sinh vật học.




Từ khóa tìm kiếm nhiều: quang hợp, len men

Các thí nghiệm của Pasteur

            Louis Pasteur (1822-1895), giống như Spallanzani, đã đun sôi các dịch chiết đủ lâu để giết chết mọi thứ. Song thay vì hàn các bình lại ông đã uốn cong co của chúng thành hình chữ s, hình náy cho phép không khí đi vào song lai có thể ngăn cản bụi và các vi sinh vật xâm nhập vào dịch lỏng.            Các “bình cổ ngỗng” của ông đã duy trì được sự vắng mặt của vi sinh vật thậm chí sau 18 tháng. Vì răng dịch lỏng chứa đủ mọi chất dinh dưỡng (kể cả không khí) cần thiết cho các sinh vật, nên ông đã kết luận: “Thuyết tự sinh sẽ không bao giờ có thể ngóc đầu dậy được sau cú đòn chí tử của thí nghiệm đơn giản này”.


Pasteur

             Sau thí nghiệm này Pasteur còn chứng minh được rằng, vi sinh vật trong không khí chính là “bố mẹ” của các vi sinh vật trong thí nghiệm của Needham. Ông đập vỡ cổ của một số bình, cho dịch lỏng tiếp xúc trực tiếp với không khí và cẩn thận nghiêng một số carefully tilted others so that the liquiđ bình khác để cho dịch lỏng cố thể thể tiếp xúc touched the dust that hađ accumulateđ in với phần bụi đã lắng đọng trong cổ bình, their necks . The next day, all of these flasks Hôm sau, tất cả các bình này đều đục lên do were clouđy with microbes. He concludeđ sự có mặt của vi sinh vật. Ông kết luận rằng thai the microbes in the liquid vvere the vi sinh vật trong dịch lỏng chính lấ con cháu progeny of microbes thai had been on the của các vi sinh vật đã chứa sẵn trong các hạt dust particlesr bụi.



Đọc thêm tại : http://baitapvisinh.blogspot.com/2015/06/nghien-cuu-cua-turbervile-va-spallanzani.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: bài tập sinh học, len men

Nghiên cứu của Turbervile và Spallanzani

           Nhà nghiên cứu người Anh Turbervile đã đun sôi nước thịt bò và dịch chiết thực vật chứa trong những lọ nhỏ, sau đó ông nút chặt những lọ này bằng nút bấc.            Vài ngày sau, quan sát thấy các lọ đục lên và sau khi xem xét đã phát hiện ra rất nhiều “động vật hiển vi có kích thước rất khác nhau”. Theo sự giải thích của ông, phải có một “lực sống” lầm cho các vật chất không sống được chuyên một cách ngẫu nhiên sự sống, vì ông ta đã đun nóng nhưng lọ nhỏ này tới mức đủ để giết chết mọi thứ. Các thí nghiệm của Needham gây ấn tượng mạnh đến nỗi Hội Hoàng gia đã bầu ông làm hội viên.
           Các thí nghiệm của Spallanzani
         Sau đó, vào năm 1799, nhà khoa học người Ý Lazzaro Spallanzani (1729-1799) đã đưa ra các kết quả chống đối lại những phát hiện của Needham spallanzani đun sôi một sô” dịch chiết khoảng một giờ và hàn miệng các lọ này lại. Các dịch chiết của ông vẫn giữ trong suốt, trừ phi ông đập vỡ chỗ hàn vF cho dịch tiếp xúc với không khí, sau động tác này chúng đã đục lên vì chứa các vi sinh vật.

Lazzaro Spallanzani

           Ông rút ra ba kết luận:

1. Needham đã đun các lọ nhỏ của ông không đủ nóng để giết chết toàn bộ vi sinh vật hoặc là ông ta đã không nút chúng thật kín.
2. Vi sinh vật tồn tại trong không khí và có thê nhiễm vào các thí nghiệm.
3. Sự tự sinh của vi sinh vật không xảy ra; mọi sinh vật đều xuất hiện từ các sinh vật khác.
         Mặc dù các thí nghiệm của spallanzani tưởng như có thê làm yên ả vĩnh hằng sự ưanh luận, nhưng thật khó có thê hạ bệ một học thuyết đã từng ngự trị từ 2000 năm nay, đặc biệt, khi người đưa ra nó lại là một nhà khoa học nổi tiêng như Aristotle. Một trong các ý kiến phê phán công trình của spallanzani nói rằng, các lọ hàn kín của ông không cho phép không khí đi vào đủ đê cho sinh vật phát triển; một sự phản đối khác cho rằng việc đun nóng kéo dài của ông đã phá hủy “lực sống”. Cuộc luận chiến tiếp tục cho đến khi nhà hóa học người Pháp Louis Pasteur tiến hành các thí nghiệm mà rốt cuộc sê chôn vùi vĩnh viễn thuyết tự sinh.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: bài tập sinh học, quang hợp