Các thí nghiệm của Pasteur

            Louis Pasteur (1822-1895), giống như Spallanzani, đã đun sôi các dịch chiết đủ lâu để giết chết mọi thứ. Song thay vì hàn các bình lại ông đã uốn cong co của chúng thành hình chữ s, hình náy cho phép không khí đi vào song lai có thể ngăn cản bụi và các vi sinh vật xâm nhập vào dịch lỏng.            Các “bình cổ ngỗng” của ông đã duy trì được sự vắng mặt của vi sinh vật thậm chí sau 18 tháng. Vì răng dịch lỏng chứa đủ mọi chất dinh dưỡng (kể cả không khí) cần thiết cho các sinh vật, nên ông đã kết luận: “Thuyết tự sinh sẽ không bao giờ có thể ngóc đầu dậy được sau cú đòn chí tử của thí nghiệm đơn giản này”.


Pasteur

             Sau thí nghiệm này Pasteur còn chứng minh được rằng, vi sinh vật trong không khí chính là “bố mẹ” của các vi sinh vật trong thí nghiệm của Needham. Ông đập vỡ cổ của một số bình, cho dịch lỏng tiếp xúc trực tiếp với không khí và cẩn thận nghiêng một số carefully tilted others so that the liquiđ bình khác để cho dịch lỏng cố thể thể tiếp xúc touched the dust that hađ accumulateđ in với phần bụi đã lắng đọng trong cổ bình, their necks . The next day, all of these flasks Hôm sau, tất cả các bình này đều đục lên do were clouđy with microbes. He concludeđ sự có mặt của vi sinh vật. Ông kết luận rằng thai the microbes in the liquid vvere the vi sinh vật trong dịch lỏng chính lấ con cháu progeny of microbes thai had been on the của các vi sinh vật đã chứa sẵn trong các hạt dust particlesr bụi.



Đọc thêm tại : http://baitapvisinh.blogspot.com/2015/06/nghien-cuu-cua-turbervile-va-spallanzani.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: bài tập sinh học, len men

Nghiên cứu của Turbervile và Spallanzani

           Nhà nghiên cứu người Anh Turbervile đã đun sôi nước thịt bò và dịch chiết thực vật chứa trong những lọ nhỏ, sau đó ông nút chặt những lọ này bằng nút bấc.            Vài ngày sau, quan sát thấy các lọ đục lên và sau khi xem xét đã phát hiện ra rất nhiều “động vật hiển vi có kích thước rất khác nhau”. Theo sự giải thích của ông, phải có một “lực sống” lầm cho các vật chất không sống được chuyên một cách ngẫu nhiên sự sống, vì ông ta đã đun nóng nhưng lọ nhỏ này tới mức đủ để giết chết mọi thứ. Các thí nghiệm của Needham gây ấn tượng mạnh đến nỗi Hội Hoàng gia đã bầu ông làm hội viên.
           Các thí nghiệm của Spallanzani
         Sau đó, vào năm 1799, nhà khoa học người Ý Lazzaro Spallanzani (1729-1799) đã đưa ra các kết quả chống đối lại những phát hiện của Needham spallanzani đun sôi một sô” dịch chiết khoảng một giờ và hàn miệng các lọ này lại. Các dịch chiết của ông vẫn giữ trong suốt, trừ phi ông đập vỡ chỗ hàn vF cho dịch tiếp xúc với không khí, sau động tác này chúng đã đục lên vì chứa các vi sinh vật.

Lazzaro Spallanzani

           Ông rút ra ba kết luận:

1. Needham đã đun các lọ nhỏ của ông không đủ nóng để giết chết toàn bộ vi sinh vật hoặc là ông ta đã không nút chúng thật kín.
2. Vi sinh vật tồn tại trong không khí và có thê nhiễm vào các thí nghiệm.
3. Sự tự sinh của vi sinh vật không xảy ra; mọi sinh vật đều xuất hiện từ các sinh vật khác.
         Mặc dù các thí nghiệm của spallanzani tưởng như có thê làm yên ả vĩnh hằng sự ưanh luận, nhưng thật khó có thê hạ bệ một học thuyết đã từng ngự trị từ 2000 năm nay, đặc biệt, khi người đưa ra nó lại là một nhà khoa học nổi tiêng như Aristotle. Một trong các ý kiến phê phán công trình của spallanzani nói rằng, các lọ hàn kín của ông không cho phép không khí đi vào đủ đê cho sinh vật phát triển; một sự phản đối khác cho rằng việc đun nóng kéo dài của ông đã phá hủy “lực sống”. Cuộc luận chiến tiếp tục cho đến khi nhà hóa học người Pháp Louis Pasteur tiến hành các thí nghiệm mà rốt cuộc sê chôn vùi vĩnh viễn thuyết tự sinh.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: bài tập sinh học, quang hợp

Thời kỳ hoàng kim của vi sinh vật học

          Trong khoảng 50 năm của thời kỳ mà ngày nay chúng ta gọi là “Thời kỳ hoàng kim của vi sinh vật học”, các nhà khoa học và ngành vi sinh vật học đã được thúc đẩy bởi các nghiên cứu nhằm trả lời bốn câu hỏi sau đây:
1. Có thế có hiện tượng tự sinh trong thế giới vi sinh vật hay không?
2. Điều gì gây ra lên men?
3. Điều gì gây ra bệnh tật?
4. Bằng cách nào chúng ta có thê ngăn ngừa sư nhiễm trùng và bệnh tật?

          Có thể có hiện tượng tự sinh trong thế giới vi sinh vật hay không?
        Aristotle (384-322 trước Công nguyên), nhà khoa học nổi tiếng nhất người Hy Lạp, đã viết rằng sinh vật có thể xuất hiện thông qua ba quá trình: nhờ sinh sản vô tính, nhờ sinh sản hữu tính và từ các vật chất không sông. Sự xuất hiện của tôm và cóc trong nước bùn của một cái hồ trước đó vừa bị khô cạn có thê được xem như một ví dụ về quá trình thứ ba, một quá trình sau đó được gọi là sự phắt sinh tự nhiên hay sự tự sinh. Thuyết tự sinh được Aristotle đề xuất đã được chấp nhận rộng rãi trong suốt thời gian dài trên 1900 năm vì dường như nó có thể giải thích được hàng loạt hiện tượng thường gặp, như sự xuất hiện của giòi trên những miêng thịt đang thốỉ rữa. Tuy nhiên, vào thế kỷ 17, giá trị của học thụyết này đã được mang ra tranh cãi.

vi sinh vật học


          Vào cuối những năm 1600, một bác sĩ người Ý, bằng một loạt Prancesco Ređi (1626-1697) đemonstrateđ thí nghiệm đã chứng minh được rằng thịt đang thối rừa nếu được ngăn cách với ruồi thì sẽ không bao giờ xuất hiện, trong khi thịt được tiếp xúc với ruồi sẽ sinh ra giòi ngay lập tức. Từ kết quả của những thí nghiệm kiểu, như vậy, các nhà khoa học bắt đầu nghi ngờ học thuyết của Aristotle và thừa nhận quan điểm cho rằng động vật chỉ có thể bắt nguồn từ các động vật khác.
           Cuộc luận chiến về thuyết tự sinh đã được nhen nhóm lại khi Leeuwenhoek phát hiện ra vi sinh vật và chỉ ra rằng chúng xuất hiện chỉ and vài ngày sau khi các giọt nước mưa được đọng lại. Mặc dù các nhà khoa học nhất trí rằng các động vật lớn có thể không xuất hiện một cách ngẫu nhiên, song họ không nhất trí được về các con “đã thú” nhỏ của Leeuwenhoek; chắc chắn chúng đã không có bố mẹ, họ nghĩ như vậy. Vậy thì chúng phải được xuất hiện một cách ngẫu nhiên.




Từ khóa tìm kiếm nhiều: hô hấp ở thực vật, lên men

Giai đoạn phát triển sớm của vi sinh vật học

Chỉ có một vài người đã làm thay đổi vĩnh viễn thế giới khoa học. Chúng ta đã nghe kê về Galileo, Newton, và Einstein, song danh sách này cũng có thể bao gồm cả Antoni van Leeuwenhoek (1632-1723), một thợ may, thương gia, và thợ mài thấu kính người Hà Lan, và là người đầu tiên đã khám phá ra thế giới vi sinh vật.


Hành trình dẫn đến sự nôi tiếng của ông được bắt đầu khá đơn giản, lúc đó, vì là một thương gia, ông cần phải kiểm tra chất lượng của vải. Thay vì chỉ mua một trong các kính lúp có sẵn, ông đã học cách mài kính và làm ra kính lúp cho riêng mình. Chẳng bao lâu ông bắt đầu đặt câu hỏi về tất cả những thứ xung quanh ông “Thật ra chúng trông như thế nào nhỉ?”

Antoni van Leeuwenhoek


Leeuvvenhoẹk đã phát hiện ra một thế giới vi sinh vật trước đó chưa ai biết tới, thế giới mà ngày nay chúng ta biết rằng, bao gồm các động vật nhỏ xíu, nấm, tảo, và các nguyên sinh động vật đơn bào. Từ bức vẽ đi kèm với bản báo cáo và từ sự mô tả chính xác về kích thước của các sinh vật thu được từ các kẽ răng của ông, chúng ta biết rằng lúc đó Leeuwenhoek đang nói về sự tồn tại của các vi khuẩn Vào cuối thế kỷ ’19, những “con thú nhỏ” của Leeuwenhoek được gọi là các “microbes’ còn ngày nay chúng ta gọi chủng là các “microorganisms”. Cả hai thuật ngữ đều bao gồm tất cả những sinh vật nào nhỏ tới mức không thể nhìn thấy được nếu thiếu trong tay một kính hiển vi.
Nhờ chất lượng các kính hiển vi, nhờ các kỹ năng quan sát sâu sắc, nhờ các báo cáo trong suốt 50 năm liền và nhờ bản báo cáo chi tiết cua ông về sự phát hiện ra nhiều loại vi sinh vật/ Antoni van Leeuwenhoek đã được bầu vào Hội Hoàng gia vào năm 1680. Ông và Isaac Nevvton chắc chắn đã là những nhà khoa học nổi tiếng nhất vào thời đại của họ. Vì rằng ông đã làm thay đổi vĩnh viễn cách nhìn của chúng ta về thế giới của mình, ngày nay Leeuwenhoek được biết đến như người khai sinh ra ngành Nguyên sinh động vật học và ngành Vi khuẩn học.
Dạng vi sinh vật duy nhất còn là một bí ẩn đối với Leeuwenhoek và các nhà vi sinh vật học khác thời đó là virut, bọn này nhỏ hơn nhiều so với các sinh vật nhân sơ nhỏ nhất và không thể nhìn thấy được dưới kính hiển vi quang học. Virut chỉ được quan sát thấy vào năm 1932 khi kính hiển vi điện tử được phát minh.
Lần đầu tiên Leeuwenhoek báo cáo về sự tồn tại của vi sinh vật là vào năm 1674, nhưng gần hai thế kỷ sau vi sinh vật học vẫn không được phát triển mạnh mẽ như một lĩnh vực nghiên cứu. Có nhiều nguyên nhân đối với sự chậm trễ này. Trước hết, Leeuwenhoek là một con người hay nghi ngờ và bí hiểm. Mặc dù đã làm ra trên 400 kính hiển vi song ông chưa hề đào tạo một thợ học nghề và cũng không bao giờ bán hoặc cho ai một kính hiển vi nào. Sự thật là ông chưa bao giờ để bất kỳ ai – kể cả gia đình mình lẫn các vị khách đáng kính như Nga hoàng hoặc Nữ hoàng Anh – được xem qua các dụng cụ tốt nhất của ông. Khi Leeuvvenhoek qua đời, bí mật của việc chế tạo các kính hiển vi cao cấp cũng mất theo.


Đọc thêm tại : http://baitapvisinh.blogspot.com/2015/06/lich-su-phat-trien-cua-vi-sinh-vat-hoc.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: bai tap sinh hoc, lên men

Lịch sử phát triển của vi sinh vật học

Khi đã nắm vững chương này bạn phải có khả năng:
• Mô tả những đóng góp khoa học làm thay đổi thế giới của Leeuwenhoek
• Định nghĩa vi sinh vật bằng các thuật ngữ của Leeuvvenhoek và theo những gì chúng ta biết về chúng hiện nay.

vi sinh vật học


• Kể tên năm nhóm vi sinh vật.
• Giải thích tại sao nguyên sinh động vật, tảo và các giun ký sinh-phi vi sinh vật cũng được nghiên cứu trong vi sinh vật học.
• Phân biệt giữa sinh vật nhân sơ và sinh vật nhân chuẩn.
• Kể ra bốn vân đề đã đẩy các nghiên cứu tới giai đoạn được gọi là “Thời kỳ hoàng kim của vi sinh vật học”.
• Xác định những nhà khoa học nào đã đấu tranh ủng hộ thuyết tự sinh.
• So sánh và đối lập các nghiên cứu của Redi, Spallanzani, và Pasteur nhằm bác bỏ thuyết: tự sinh.
• Thảo luận về tầm quan trọng của các thí nghiệm lên men của Pasteur đối với thê giới ngày nay.
• Gọi tên nhà khoa học đã có các thí nghiệm mỏ đầu ngành hóa sinh học và các nghiên cứu về trao đổi chất.
• Kể ra ít nhất bảy đóng góp của Koch đối với lĩnh vực vi sinh vật học.
• Kể ra bốn bước cần phải tiến hành để chứng minh tác nhân của một bệnh truyền nhiễm.
• Mô tả sự đóng góp của Gram đối với lĩnh vực vi sinh vật học
• Gọi tên bốn nhân viên ngành y tế đa tiến hành các nghiên cứu tiện phong , trong lĩnh vực vi sinh vật học sức khoẻ cộng đồng và dịch tễ học. Kể tên hai nhà khoa học mà các công trình về vacxin của họ đã mở đầu ngành miễn dịch học.
Mô tả công cuộc tìm kiếm đối với “viên thuốc kỳ diệu”.


Đọc thêm tại : http://baitapvisinh.blogspot.com/2015/04/qua-trinh-len-men.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: bai tap sinh hoc, hô hấp ở thực vật

Quá trình lên men

Theo tiếng địa phương, lên men là sự sản sinh ra rượu từ đường, song trong vi sinh vật học, lên men có nghĩa rộng hơn. Lên men là sự oxi hóa từng phần đường (hay các chất trao đổi khác) để giải phóng ra năng lượng bằng cách sử dụng một phân từ hữu cơ làm chất nhận điện tử cuối cùng thay vì một chuỗi vận chuyển điện tử. Nói cách khác, con đường trao đổi chất lên men là những phản ứng trao đổi chất oxi hoá NADH thành NAD* bằng cách song song khử các phân tử hữu cơ là những chất nhận điện tử cuối cùng. Ngược lại, như đã thấy trước dây, hô hấp hiếu khí khừ oxi còn hô hấp kị khí khử các chất vô cơ khác như sunfat và nitrat hoặc (hiếm hơn) một phân tử hữu cơ.

Quá trình lên men


       Chức năng thiết yếu của lên men là tái sinh NAD* dùng cho đường phân, do vậy các phân tử ADP có thể được photphoryl hóa thành ATP. Mặc dù các con đường trao đổi chất lên men đứng về mặt năng lượng không hiệu quả bằng hô hấp vì rằng đa số năng lượng tiềm tàng dự trữ toong glucoza vẫn nằm lại trong các liên kết của các sản phẩm lên men song lợi ích chủ yếu của lên men nằm ở chỗ nó cho phép sự sản sinh ATP được tiếp tục khi vắng mặt hô hấp tế bào. Các vi sinh vật có con đường trao đổi chất lên men có thể định cư à những môi trường kị khí, nơi không thuận lợi đối với các sinh vật hiếu khí nghiêm ngặt.

       Vi sinh vật sản sinh một loạt sản phẩm lên men tuỳ thuộc các enzim và các cơ chất được cung cấp cho mỗi loài. Mặc dù các sản phẩm lên men là các sản phẩm thải đối với tế bào tổng hợp nên chúng, song nhiều sản phẩm lại có ích cho con người, đó là etanol (rượu uống), axit axetic (giấm), và axit lactic (được sử dụng trong sản xuất phomat, dưa muối và dưa chuột muối).

      Các sản phẩm lên men khác có hại cho sức khoẻ con người và công nghiệp. Chẳng hạn, các sản phẩm lên men của Clostridium perfringens tham gia vào việc làm hoại tử (chết) các mô cơ có liên quan tới bệnh hoại thư sinh hơi. Tương tự, như bạn có thê nhớ lại từ chương 1, Pasteur đã phát hiện ra rằng vi khuẩn nhiễm bẩn dịch nho đã lên men đường thành các sản phẩm không mong muốn như axit axetic và axit lactic, các axit này đã làm hỏng rượu vang.

Quá trình quang hợp ở thực vật

       Nhiều sinh vật chỉ sử dụng các phân tử hữu cơ làm nguồn năng lượng và chất trao đổi, song chúng nhận được các phân tử hữu cơ này từ đâu? Cuối cùng thì mọi chuỗi dinh dưỡng đều được bắt đầu bằng các con đường trao đổi chất đồng hoá trong các cơ thể tổng hợp các phân tử hữu cơ cho riêng mình từ CO2vô cơ. Hầu hết các cơ thể này đều bắt giữnăng lượng ánh sáng từ mặt trởi và sở dụng nó để hoạt hoá sự tổng hợp các hiđrat cacbon từ CO, và H2O nhở một quá trình dược gọi là quang hợp. Các vi khuẩn lam, các vi khuẩn lưu huỳnh màu tía, các vi khuẩn lưu huỳnh màu lục, các vi khuẩn không lưu huỳnh màu tía, một số nguyên sinh động vật, tảo và cây xanh là những sinh vật quang hợp.

Quá trình quang hợp ở thực vật


       Các chất hoá học và các cấu trúc và cấu trúc

      Sinh vật quang hợp bắt giữ năng lượng ánh sáng nhờ các phân tử sắc tố mà quan trọng nhất trong số đó là clorophyl. Các phân tử clorophyl được cấu tạo từ đuôi hiđratcacbon gắn với một vị trí hoạt động hấp thụ ánh sáng nằm xung quanh một ion magie (Mg2*). về mặt cấu trúc, các vị trí hoạt động giống với phân tử xitocrom gặp trong các chuỗi vận chuyển điện tử, với ngoại lệ là clorophyl chứa Mg2* thay cho Fe2+. Clorophyl thường được kí hiệu bằng các kí tư – ví dụ clorophyl a, clorophyl b và bacterioclorophyl a- khác nhau một chút về độ dài và cấu trúc của đuôi hiđrat cacbon và trong các nguyên tử kéo dài ra từ các trung tâm hoạt động. Cây xanh, tảo, nguyên sinh động vật quang hợp về cơ bản sử dụng clorophyl a trong khi các vi khuẩn màu lục về màu tía sử dụng các bacterioclorophyl.

       Sự khác biệt nhờ về mặt cấu trúc giữa các clorophyl làm cho chúng hấp thụ được ánh sáng ở các độ dài sóng khác nhau. Chăng hạn clorophyl từ tảo hấp thụ ánh sáng tốt nhấtở độ dài sóng khoảng 425 nm và 660 nm (tia tím và đỏ) trong khi bacterioclorophyl a từ vi khuẩn tía hấp thụ ánh sáng tốt nhất ở các độ dài sóng khoảng 350 nm và 880 nm (tia tử ngoại và tia hồng ngoại). Vì rằng chúng sử dụng ánh sáng tốt nhất ơ các độ dài sóng khác nhau, cho nên tảo và vi khuẩn tía chiếm lĩnh được những sinh thái khác nhau.

        Tế bào sắp xếp các phân tử clorophyl và các sắc tố khác trong một phần nền protein để tạo nên các vùng bắt giữ ánh sáng được gọi là các quang hệ nằm xen trong các màng tế bào được gọi là các tilacoit. Tilacoit ở các sinh vật nhân sơ quang hợp là những phần lõm vào của màng tế bào chất. Các tilacoit của các sinh vật nhân chuẩn hình như được tạo thành từ các nếp gấp của màng trong lục lạp, mặc dù màng tilacoit và màng trong khổng được thống với nhau ở các lục lạp trưởng thành. Các tilacoit của lục lạp được sắp xếp thành chồng được gọi là hạt. Màng ngoài lục lạp bao quanh hạt và vùng không gian giữa màng ngoài và màng tilacoit được gọi là chết nền.